Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Làng rèn Hiền Lương với bề dày lịch sử hơn 500 năm

Nằm dọc bờ Bắc con sông Bồ, làng Hiền Lương (xã Phong Hồ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) từ lâu đã nổi tiếng với nghề rèn truyền thống

Hiền Lương là một làng không lớn nay thuộc xã Phong Hiền, huyện Ơhong Điền. Đất đai màu mỡ, xóm làng quần tụ đông đúc, kề ngay song lớn, giao thông tiện lơi và cách kinh đô Huế không xa là cơ sở thúc đẩy sự phát triển nhanh và liên tục của nghề rèn và làng mấy thế kỷ qua.

Qúa trình khai phá phát triển

Theo Ô châu cận lục, Hiền Lương có tên là Hoa Lang – là một trong 53 xã của huyện Đan Điền, phủ Triệu Phong. Hiền Lương là điểm tụ cư, dựng xóm lập làng sớm của các nhóm di dân từ Bắc vào tạo thành các cụm “làng đệm ven sông”. Cư dân Hiền Lương phát triển nghề thủ công luyện rèn sắt từ rất sớm của các nhóm di dân từ Bắc vào tạo thành các cụm “làng đệm ven sông”, nhưng xu hướng khai hoang, mở rộng đất đai cư trú và trồng trọt vẫn đặt ra thường xuyên.

Tổ chức làng xã và sinh hoạt văn hóa

Tổ chức làng xã từ thời Lê, Mạc đến đầu thế kỉ XX gồm hai bộ phận: hành chính và tư trị, tự quản. Bộ máy hành chính là ban Hương sự sau đổi thành Ngũ hương gồm: lý trưởng, hương bộ, hưởng bản, hương mục, hương kiểm. Dân định các phường cũng không được cử giữ chức vụ hành chính ở làng.

Xây dựng hương ước rất được làng quan tâm nhằm tạo nếp sống làng quê trong một “khuôn khổ”, tạo sự thống nhất và giúp cho việc tự quản, tự trị thêm hiệu quả. Hương ước cũng thể hiện sự điều hòa và tự điều chỉnh các mối quan hệ ở làng xã.

Quan hệ dòng họ: Các họ đầu tiên đến dung xóm lập làng ở Hiền Lương là Phan, Lê, Nguyễn và Võ. Sự phân biệt vị thứ các dòng họ có, nhưng không khắt khe, quan hệ họ hàng có phần lỏng lẻo hơn Phú Bài.

Sinh hoạt văn hóa ở Hiền Lương việc thờ cúng tổ nghề rất được coi trọng, mọi thành viên đều tham gia với tình cảm ghi ơn người tạo lập nên nghề. Bên cạnh nhờ thở tổ nghề, nhân dân Hiền Lương còn xây dựng đình, chùa, đền, miếu… thể hiện sự hỗn dung đan xen các tôn giáo tín ngưỡng.

Nghề rèn: sự ra đời và phát triển

Hiền Lương là một làng rèn sắt khá nổi tiếng trên dải đất miền Trung Trung bộ. Nghề luyện, rèn đã ra đời và phát triển ở đây từ nhiều thế kỷ nay cùng với dân cư khai phá lập làng.

Tổ sư dạy nghề cho làng là ngài Tây Nhạc Thiên Kim Thuận Đế, sau được gia phong Thái Lợi Chi Thần. Nhờ có nghề rèn mà người Hiền Lương bôn tẩu đi làm ăn, làm giàu khắp nơi. Ngày giỗ Tổ sư hàng năm vào ngày 18/2 âm lịch, người ở xa không về được thường họp nhau ở nhà Kỉnh trưởng để tưởng niệm, dâng hương bái vọng về cố thổ.

 Với sự ra đời và phát triển của tổ chức “hàng kỉnh” nhằm bảo lưu, giúp đỡ, truyền giữ các nghề rèn truyền thống, từ nửa sau thế kỷ XVI và nhất là thế kỷ XVII – XIX, nghề rèn Hiền Lương đã phát huy ảnh hưởng trên một địa bàn rộng lớn từ Quảng Trị đến các tỉnh phía Nam Trung Bộ. Hàng kỉnh là một dạng của hiệp hội ngành nghề ngày nay, nhưng đầm ấm, tình nghĩa hơn vì đa số thành viên đều là con dân, dâu rể của nghề rèn Hiền Lương.

Theo sử sách thì dưới triều Tây Sơn, nhiều thợ rèn Hiền Lương tham gia quân đội, rèn gươm giáo cho nghĩa quân Tây Sơn, trong số ấy có một người họ Hoàng được tuyển chọn để rèn gươm cho chủ soái Nguyễn Huệ.

Vào thời nhà Nguyễn, nhiều thợ rèn Hiền Lương có chân trong ngạch quan võ, Võ khố nha và Bách công Dạ tượng cuộc mà tên tuổi các ngài còn ghi trong sách sử hay trên quả chuông lưu tại chùa làng. Như ngài Trần Văn Đắc, một thợ rèn có nhiều công lao trong việc đào tạo thợ cho triều đình cũng như ngoài dân gian, được vua Minh Mạng đến vua Tự Đức ban cấp nhiều sắc bằng. Ngài Hoàng Văn Lịch, một thợ rèn Hiền Lương. Do trí thông minh và chịu khó nên việc học nghề sớm thành tài. Đầu triều Gia Long, ông được sung vào ngạch quân võ, thăng dần lên Cai đội, rồi Lãnh binh. Đến cuối triều Minh Mạng, theo lệnh vua ông đã trực tiếp chỉ huy chế tạo thành công ba chiếc tàu thuỷ chạy bằng hơi nước khác nhau và có tên: Yên Phi, Vân Phi, Vụ Phi. Hoàng Văn Lịch được xem là kỹ sư chế tạo tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên của Việt Nam. Theo Hương phổ của làng, ngoài việc có công chế tạo tàu thủy, ông còn rèn được một loại gươm rất sắc bén, cây to một ôm, cũng có thể chém một nhát là đứt; và ông còn chế ra các thứ súng bắn bằng hơi chứ không phải bằng thuốc. Do công lao của mình mà ngài được vua Minh Mạng thụ phong tước Hầu, là một việc hiếm thấy. Đánh giá công lao của ông trong lịch sử đóng tàu thủy chạy bằng máy hơn nước của Việt Nam, trong đợt đặt tên đường phố lần thứ IV năm 2005, tên tuổi của Hoàng Văn Lịch đã được HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế lấy để đặt cho một con đường ở vùng cảng Bãi Dâu, phường Phú Bình, thành phố Huế.

Vào cuối thế kỷ 19, theo Chiếu Cần vương, nhiều thợ rèn Hiền Lương hăng hái tòng quân lên chiến khu Tân Sở, mở lò sản xuất vũ khí chống Pháp. Đầu thế kỷ 20, nhiều thợ rèn Hiền Lương trở thành những người thầy dạy nghề rèn và cơ khí tại Trường Bá công (Bách công kỹ nghệ thực hành đầu tiên của Việt Nam) được lập tại Huế dưới triều vua Thành Thái…

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhiều con dân Hiền Lương làm cách mạng, đem nghề rèn phục vụ kháng chiến cứu quốc trong ngành quân giới, súng đạn, hỏa xa tiêu biểu như các vị Hoàng Trình, Trương Công Cẩn, Hoàng Ngọc Diêu, Dương Phước Phùng…Có người như ông Trần Hữu Nam vừa hoạt động cách mạng vừa đem nghề rèn dạy cho người dân miền núi Thừa Thiên, nên được dân kính trọng gọi bằng danh xưng thân thương: “Ông Cu Đe”… Từ người thợ rèn đi làm cách mạng, về sau họ trở thành những tướng lĩnh, cán bộ trung, cao cấp của Đảng, quân đội, Nhà nước… Và cũng chính nhờ nghề rèn truyền thống mà con dân Hiền Lương sớm được học hành đỗ đạt: thời Hán học đã có nhiều người đỗ đại khoa, cử nhân, tú tài; thời hiện đại nhiều người là giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà văn, nhà báo, nhà giáo… đều không quên cái gốc con dân làng rèn.

Kỹ thuật luyện rèn sắt: Thế kỷ đầu mới phát triển, người Hiền Lương biết tự luyện lấy sắt để rèn, dấu vết lò luyện và xi sắt còn gặp trên núi Động Lâm, Ồ Ồ. Thiết kế lò và kỹ thuật luyện sắt thô sơ, qui mô tổ chức đơn giản, bộ phận nấu sắt chưa tách rời các lò rèn. Rèn sắt là nghề phố biến của dân làng, chỉ cần từ 3 đến 4 người trên cơ sở hộ gia đình là có thể sản xuất được. Lò rèn của những thợ chuyện nghiệp có quy mô lớn hơn, hoạt động quanh năm, sản phẩm được người buôn vận chuyển đi bán. Phân công lao động chưa cao, phương thức hoạt động phân tán trên địa bàn rộng.

Buổi đầu, cư dân Hiền Lương tự luyện lấy sắt, khi nghề luyện sắt ở Phú Bài phát triển, người Hiền Lương sử dụng nguyên liệu sắt Phú bài, tập trung phát triển nghề rèn, tạo nên sự phân công tự nhiên, sự liên kết trong phát triển nghề giữa hai làng.

Dạy, học nghề rèn ở Hiền Lương mang tính cổ điển. Học xong, người thợ có thể đi mở lò rèn ở các làng khác hoặc gia nhập các tổ chức “hàng kỉnh” của thợ ràn làng mình để hành nghề.

Tổ chức “hàng kỉnh” của những thợ rèn Hiền Lương đi làm ăn xa nhằm liên kết nhau bảo vệ nghề nghiệp, giúp nhau trong sản xuất và thực hiện tín ngưỡng thờ cúng tổ nghề. “Hàng kỉnh” là hiện tượng có từ lâu đời, phổ biến và tồn tại đến ngày nay. Đứng đầu kỉnh là một vị kinh trưởng được chọn trong số các thợ cả, cao tuổi nhất, có uy tín, có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp. Về mặt xã hội, hàng kỉnh còn mang đậm tính đồng hương, tương trợ, khá ổn định, hạn chế sự cạnh tranh và sự phát triển của nghề.

Nghề rèn Hiền Lương trở thành ngành kinh tế chính, thu hút phần lớn lao động, thu nhập khá so với nghề nông, nên giữ vai trò quyết định trong đời sống dân làng. Nhiều thợ rèn, thợ đúc người Hiền Lương đã làm việc tại các tượng cục thuộc vũ khố của triều đình Huế đã có những đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của kỹ thuật công nghệ nước nhà lúc bấy giờ. Hoạt động trên một không gian rộng, nghề rèn Hiền Lương đã góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp và các ngành kinh tế khác từ Quảng Trị trở vào đến Khánh Hòa.

Tổ đình nghề rèn Hiền Lương – nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, giáo dục cho thế hệ mai sau.

Nhớ ơn vị Tổ sư và các bậc tiền nhân đã dày công truyền dạy nghề rèn cho dân làng, vào cuối thế kỷ 18, dân làng đã thiết lập một ngôi nhà tranh, rước thần chủ vị Tổ sư nghề rèn vào thờ, sau này ngôi nhà tranh ấy đã trở thành Tổ đình nghề rèn Hiền Lương. Trải qua năm tháng, trên nền xưa cũ, ngôi Tổ đình nghề rèn cũng đã nhiều lần được dân làng sửa sang, từ nhà tranh thành nhà ngói. Kiến trúc theo kiểu truyền thống, chung quanh xây la thành bao bọc, trước dựng trụ biểu tạc câu đối tôn vinh, xây bình phong chắn chướng khí, đào hồ chữ nhật để thả cá, vừa trồng sen làm mát mùa hạ, vừa lấy nước phòng hỏa khi cần.

Ở nội điện Tổ đình, chính giữa thờ Tổ sư nghề rèn, văn tế hàng năm linh bái ngài Tây Nhạc Kim Thiên Thuận Đế, về sau triều Nguyễn lại gia phong Thái Lợi Chi Thần, cùng phối thờ liệt vị tiên sư. Tả hữu nội điện thờ tiên hiền, hậu hiền trong làng và những người có công với nghề rèn truyền thống.

Xuân thu năm hai lần tế bái, chánh giỗ ngài Tổ sư nhằm ngày 18/2 âm lịch hàng năm, con dân của làng và cả những học trò nghề rèn ở mọi miền đất nước thường trở về đây chiêm bái, tri ân Tổ sư nghề rèn và bao lớp thầy thợ ngày trước đã truyền dạy cho hậu thế cái nghề lương thiện “đứng đầu trong bách nghệ”, làm rạng danh ngôi làng và góp phần mở mang cơ nghiệp vững vàng của nghề cơ khí nước nhà hôm nay và cầu mong mọi điều tốt lành. Đồng thời cũng là một cách “bảo thủ hương phong”, lưu giữ những giá trị lịch sử, nhằm giáo dục cho các thế hệ mai sau về một làng nghề truyền thống của Thừa Thiên Huế trước những đổi thay của thời cuộc.

Với bề dày truyền thống và những đóng góp to lớn, làng rèn Hiền Lương đã được UBND tỉnh trao Bằng công nhận Làng nghề và Làng nghề Truyền thống.

VỀ LÀNG
Hotline: 037 38 39 088
Email: admin@velang.vn
Website: https://velang.vn
Social Network: FacebookYoutubeInstagram

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x